Thực trạng phát triển nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới ở Thanh Hóa


Phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới bền vững

Thực trạng phát triển nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới ở Thanh Hóa - ảnh 1

Trang trại trồng cây ăn quả, nuôi ốc nhồi tại xã Vân Sơn (Triệu Sơn) đạt hiệu quả kinh tế cao. Ảnh: Xuân Hùng

Phát triển nông nghiệp và XDNTM trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa những năm qua đã đạt được nhiều kết quả quan trọng và là tiền đề để phát triển trong thời gian tới. Chương trình phát triển nông nghiệp, giai đoạn 2016–2020, được tỉnh, các sở, ban, ngành, các địa phương triển khai thực hiện quyết liệt, đồng bộ và đạt được những kết quả khá toàn diện trên tất cả các lĩnh vực. Quan hệ sản xuất trong nông nghiệp được đổi mới, các hình thức tổ chức sản xuất mới được nhân rộng; tích tụ, tập trung đất đai đạt kết quả bước đầu; đẩy mạnh chuyển đổi linh hoạt đất lúa, mía năng suất thấp, kém hiệu quả sang các loại cây trồng hiệu quả kinh tế cao hơn; hình thành các vùng sản xuất chuyên canh, cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến; chăn nuôi phát triển theo hướng trang trại, công nghiệp. Các nguồn lực cho sản xuất nông nghiệp được tập trung huy động và sử dụng hiệu quả; ứng dụng khoa học công nghệ bước đầu được triển khai ở nhiều địa phương… Kết quả giai đoạn 2016–2020, giá trị sản xuất nông, lâm, thủy sản tăng bình quân 3%/năm. Cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp giảm từ 76,3% năm 2015 xuống khoảng 69,1%; lâm nghiệp tăng từ 5,7% lên khoảng 7,9%; thủy sản tăng từ 17,9% lên khoảng 23%. Tỷ lệ che phủ rừng đến năm 2020 đạt 53,46%, tỷ lệ dân số nông thôn sử dụng nước hợp vệ sinh đạt 95,5%. Thực tế những năm qua cho thấy, XDNTM được các cấp ủy, chính quyền quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và có nhiều cách làm sáng tạo, phù hợp với nguyện vọng của người dân; đồng thời, nhanh chóng đi vào cuộc sống, với sức lan tỏa sâu rộng, có nhiều đột phá, đạt được thành tựu to lớn, toàn diện, đi vào chiều sâu về chất. Đời sống vật chất và tinh thần của người dân được cải thiện khá hơn; số hộ nghèo giảm nhanh; kết cấu hạ tầng về giao thông, thủy lợi, điện, trường học, trạm y tế, nhà văn hóa, thông tin, truyền thông, hạ tầng thương mại ở nông thôn được tăng cường, từng bước đáp ứng nhu cầu sản xuất và đời sống của dân cư nông thôn. Chương trình “Mỗi xã một sản phẩm – OCOP” bước đầu đã đạt được những kết quả rõ nét. Các hoạt động văn hóa – thể thao, học tập trong cộng đồng được duy trì và phát triển; y tế, giáo dục tiếp tục được chăm lo; môi trường sinh thái đã được quan tâm bảo vệ; quốc phòng – an ninh và trật tự an toàn xã hội được bảo đảm; diện mạo nông thôn đổi mới mạnh mẽ, sáng, xanh, sạch, đẹp hơn. Thông qua thực hiện chương trình XDNTM, hệ thống chính trị ở nông thôn được củng cố vững mạnh, vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của ban chỉ đạo các cấp được thể hiện rõ nét, năng lực cán bộ được nâng lên, cơ hội tiếp cận pháp luật và vai trò chủ thể của người dân được phát huy… Kết quả, đến hết tháng 5-2021, toàn tỉnh đã có 8 đơn vị cấp huyện (Yên Định, Quảng Xương, Đông Sơn, Thọ Xuân, Vĩnh Lộc, Hoằng Hóa, Nga Sơn và TP Thanh Hóa) đạt chuẩn NTM, hoàn thành nhiệm vụ XDNTM; sau sáp nhập, có 327 xã (70%), 858 thôn, bản (685 thôn, bản miền núi) đạt chuẩn NTM; 25 xã (5,35%) đạt chuẩn NTM nâng cao; 2 xã, 77 thôn, bản đạt chuẩn NTM kiểu mẫu; bình quân toàn tỉnh đạt 17,5 tiêu chí/xã. Toàn tỉnh có 76 sản phẩm OCOP cấp tỉnh (được xếp hạng từ 3 – 4 sao), 2 sản phẩm đề nghị Trung ương công nhận sản phẩm OCOP.

Phát triển nông nghiệp và XDNTM trên địa bàn tỉnh những năm qua cho thấy: Cơ cấu ngành nông nghiệp còn chậm, một số ít chỉ tiêu chưa đạt kế hoạch, vốn đầu tư cho phát triển nông nghiệp và XDNTM đạt thấp (66,9% kế hoạch). Chưa có sản phẩm nông nghiệp đặc trưng, có thế mạnh, sản lượng lớn, thương hiệu để giới thiệu, quảng bá và cạnh tranh trên thị trường. Một số cây trồng hiệu quả kinh tế thấp kéo dài, nhưng chưa có biện pháp, giải pháp hữu hiệu để giải quyết. Thực hiện Nghị quyết số 13-NQ/TU ngày 11-1-2019 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về tích tụ, tập trung đất đai còn chậm; vận động, thu hút đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn chưa tương xứng với tiềm năng… Hoạt động của ban chỉ đạo XDNTM của một số địa phương chưa thực sự có chiều sâu; kế hoạch, nội dung, giải pháp thực hiện chưa sát thực tế; vai trò của một số tổ chức đoàn thể là thành viên ban chỉ đạo cấp huyện, xã chưa phát huy rõ nét. Một số địa phương mới quan tâm đến xây dựng kết cấu hạ tầng, chưa chú trọng đến phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập cho người dân. Bên cạnh đó, xuất hiện tư tưởng thỏa mãn, bằng lòng của một bộ phận cán bộ và Nhân dân sau khi địa phương đạt chuẩn NTM, dẫn đến việc duy trì và nâng cao chất lượng các tiêu chí chưa được quan tâm đúng mức.

Phát triển nông nghiệp và XDNTM ở Triệu Sơn những năm qua đã đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ, là tiền đề quan trọng để phát triển trong thời gian tới. Đồng chí Mai Nhữ Thắng, Tỉnh ủy viên, Bí thư Huyện ủy Triệu Sơn, cho biết: Phát huy những kết quả đạt được và huyện xác định nguyên nhân của những khó khăn, vướng mắc trong phát triển nông nghiệp và XDNTM, để tập trung lãnh đạo, chỉ đạo khắc phục có hiệu quả trong thời gian tới. Theo đó, giai đoạn 2021–2025, tầm nhìn đến năm 2030, huyện xác định phát triển nông nghiệp vẫn là nhiệm vụ trọng tâm và là một trong những điều kiện để ổn định đời sống của người dân, tạo tiền đề cho phát triển các lĩnh vực kinh tế – xã hội khác. Trong đó, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo phát triển nông nghiệp theo hướng thích ứng với biến đổi khí hậu, với dịch bệnh trên cả động vật và nuôi trồng thủy sản. Việc tổ chức sản xuất quy mô lớn phải áp dụng đồng bộ các tiến bộ khoa học – kỹ thuật, bảo đảm an toàn cho sản phẩm. Về trồng trọt, cùng với sản xuất trên nền môi trường an toàn, không dùng giá thể đất và sắp xếp, tổ chức lại sản xuất, huyện tập trung phát triển các loại cây trồng cho năng suất, hiệu quả kinh tế cao. Đồng thời, bảo đảm nâng cao về giá trị dinh dưỡng, thẩm mỹ, sức khỏe của người tiêu dùng, như: Các loại sản phẩm dùng để chế biến thực phẩm chức năng, thuốc chữa bệnh… Bên cạnh đó, huyện chỉ đạo việc nghiên cứu, tập trung phát triển nhóm cây trồng thích ứng với nhiệt độ tăng, kháng sâu, bệnh. Về phát triển chăn nuôi bảo đảm kiểm soát tốt dịch bệnh, không chăn thả, quy mô lớn tập trung và chăn nuôi nông hộ bảo đảm an toàn dịch bệnh, kiểm soát tốt phát thải khí thải ảnh hưởng đến môi trường và chủ động con giống trong chăn nuôi. Hiện nay, trên địa bàn, đàn gia súc với 70% bò, 30% trâu và huyện đang tập trung phát triển theo hướng giảm đàn bò, tăng đàn trâu và bảo đảm ổn định số lượng 50% bò, 50% trâu. Đồng thời, kêu gọi, phối hợp với các tập đoàn lớn trong và ngoài nước để đầu tư phát triển chăn nuôi trang trại quy mô lớn, áp dụng công nghệ cao. Tập trung phát triển con nuôi đặc sản (chủ yếu là gia cầm) gắn với vùng miền. Tập trung chỉ đạo đầu tư phát triển nuôi trồng thủy sản theo tiêu chuẩn VietGAP, như: cá trắm cỏ, cá chép… và xây dựng sản phẩm OCOP. Đồng thời, phát triển chăn nuôi gắn với giết mổ, chế biến, tiêu thụ sản phẩm. Về phát triển lâm nghiệp, huyện ổn định diện tích, đầu tư chăm sóc, bảo vệ rừng hiệu quả nhằm góp phần bảo đảm môi trường sinh thái. Chuyển diện tích trồng cây keo sang trồng cây ăn quả; trong đó, chú trọng phát triển cây ăn quả bản địa và các loại cây ăn quả khác như na Lạng Sơn, na Đài Loan… Đồng thời, chỉ đạo phát triển cây dược liệu dưới tán rừng; cây gia vị như riềng, xả, các loại rau thơm… bảo đảm an toàn cho người tiêu dùng. Đi đôi với phát triển sản xuất nông nghiệp, Triệu Sơn phấn đấu hoàn thành XDNTM trong năm 2021; đồng thời, củng cố, nâng cao chất lượng các tiêu chí NTM, xây dựng các tiêu chí huyện NTM; XDNTM nâng cao, NTM kiểu mẫu và được công nhận huyện NTM vào năm 2022.

Phát huy những kết quả đạt được về phát triển nông nghiệp và XDNTM thời gian qua, thời gian tới, tỉnh ta tập trung xây dựng nền nông nghiệp theo hướng hiện đại có khả năng cạnh tranh cao, thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển bền vững; đẩy mạnh tích tụ, tập trung đất đai phát triển nông nghiệp quy mô lớn, công nghệ cao; gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ sản phẩm theo chuỗi giá trị. XDNTM có kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội theo hướng hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hiệu quả; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ, nông thôn ngày càng xanh, sạch, đẹp, quan hệ cộng đồng phát triển, tạo nền tảng vững chắc cho phát triển kinh tế – xã hội và chính trị của tỉnh. Phấn đấu, tốc độ tăng giá trị sản xuất nông, lâm, thủy sản bình quân giai đoạn 2021-2025 là 2,9%; cơ cấu giá trị sản xuất nông, lâm, thủy sản đến hết năm 2025: Nông nghiệp 65,2%, lâm nghiệp 10,3%, thủy sản 24,5%; sản lượng lương thực có hạt hàng năm ổn định 1,5 triệu tấn; tỷ lệ che phủ rừng đến hết năm 2025 đạt 54%; tỷ lệ số cơ sở sản xuất, kinh doanh nông, lâm, thủy sản trên địa bàn tỉnh đáp ứng quy định về an toàn thực phẩm đến hết năm 2025 đạt hơn 90%; thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn đến hết năm 2025 gấp 1,53 lần so với năm 2020… Đến hết năm 2025, có thêm 9 huyện, thị xã, thành phố đạt chuẩn và hoàn thành nhiệm vụ XDNTM, đưa số huyện, thị xã, thành phố đạt chuẩn và hoàn thành nhiệm vụ XDNTM lên 17 đơn vị; có 88% số xã, 65% số thôn, bản miền núi đạt chuẩn NTM, 25% số xã đạt chuẩn NTM nâng cao, 8% số xã đạt chuẩn NTM kiểu mẫu, bình quân toàn tỉnh đạt 18,6 tiêu chí/xã. Có 100 sản phẩm được chứng nhận là sản phẩm OCOP cấp tỉnh, từ 3 – 4 sao và 3 sản phẩm được Trung ương công nhận là sản phẩm OCOP quốc gia 5 sao.

Bài 2: Phát triển nông nghiệp theo vùng.

Nhóm PV Phòng Kinh tế

Bài viết liên quan