Việt Nam – Bỉ: Tăng cường giao thương


Riêng trong quý I năm nay, Bỉ có 78 dự án đầu tư tại Việt Nam, với tổng vốn đăng ký 1,1 tỷ USD, đứng thứ 23 trong số 131 quốc gia đầu tư vào Việt Nam.

Mặt khác, Việt Nam là đối tác thương mại lớn thứ 14 của Bỉ, với giá trị thương mại đạt khoảng 707,55 triệu USD vào năm 2020, tăng 6,7% so với năm 2019.

Do tác động của đại dịch Covid-19, kể từ tháng 3/2020, xuất khẩu của Bỉ đã tăng trưởng âm so với cùng kỳ năm 2019. Tăng trưởng xuất khẩu của Bỉ giảm từ 0,6% năm 2019 xuống -8% năm 2020.

Việt Nam - Bỉ: Tăng cường giao thương - ảnh 1

Đây là mức suy giảm kinh tế đáng kể nhất của nước này kể từ cuộc suy thoái năm 2009. Tuy nhiên, điều quan trọng cần lưu ý là mức suy giảm vào năm 2020 chỉ bằng một nửa so với năm 2009. Vào tháng 12/2020, tăng trưởng xuất khẩu của Bỉ đã tăng lên 2,5%, đây là một dấu hiệu tích cực cho bối cảnh thương mại của nước này kể từ khi bắt đầu đại dịch. Mặc dù xuất khẩu và nhập khẩu của Bỉ gặp phải những thách thức nghiêm trọng vào năm 2020, quốc gia này sẽ sớm phục hồi trong những tháng tới của năm 2021 và hơn thế nữa.

Năm 2019, xuất khẩu của Việt Nam sang Bỉ đạt 2,9 tỷ USD, tăng 8,8% so với năm 2018. Theo đó, Việt Nam đã nhập khẩu hàng hóa của Bỉ trị giá 698 triệu USD, tăng 6,5% so với năm 2018. Trong 7 tháng đầu năm 2020, do đại dịch, Việt Nam đã ghi nhận giá trị xuất khẩu sang Bỉ trị giá 1,4 tỷ USD, giảm 17,7% so với cùng kỳ năm ngoái. Mặt khác, Việt Nam nhập khẩu hàng hóa trị giá 459 triệu USD từ Bỉ, tăng 11,9% so với cùng kỳ năm ngoái.

Những con số này chứng minh rằng trong khi xuất khẩu của Việt Nam sang Bỉ trải qua một đợt suy thoái, nhập khẩu của Bỉ sang Việt Nam vẫn tăng trưởng, đó là một tín hiệu tích cực cho tương lai của thương mại song phương giữa hai nước. Năm 2019, trong EU, Bỉ là nhà xuất khẩu lớn thứ bảy vào Việt Nam và lớn thứ sáu vào năm 2018. Các mặt hàng xuất khẩu hàng đầu của Bỉ sang Việt Nam vào năm 2020 là hóa chất (46,2%) và máy móc thiết bị (13,7%). Trong khi đó, các mặt hàng xuất khẩu hàng đầu của Việt Nam sang Bỉ là dệt may, giày dép và mũ đội đầu, và kim loại cơ bản.

Khoản đầu tư lớn nhất của Bỉ vào Việt Nam là phát triển và vận hành Khu công nghiệp Đình Vũ – DVIZ. DVIZ được thành lập vào năm 1997 và đã đóng một vai trò quan trọng trong việc phát triển khu vực Hải Phòng thành một trung tâm công nghiệp năng động trong 23 năm qua.

Khu công nghiệp này hiện có diện tích 3.400ha trải dài từ Hải Phòng và tỉnh Quảng Ninh, nằm ở trung tâm phát triển cơ sở hạ tầng và sản xuất của khu vực, với vị trí gần với cảng biển nước sâu, sân bay quốc tế và mạng lưới đường cao tốc mới tới Trung Quốc (Thâm Quyến). Khu công nghiệp này đã thu hút hơn 130 dự án với các nhà đầu tư nước ngoài thuộc các quốc tịch khác nhau như Bỉ, Đức, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ và Singapore. Hiện vẫn đang thu hút thêm nhiều nhà đầu tư Bỉ và các nước khác đến kinh doanh và thiết lập nhà máy, kho bãi tại khu công nghiệp này.

Cơ hội đầu tư cho Bỉ vào Việt Nam còn ở trong nhiều ngành khác nhau như điện tử, ô tô, hậu cần, thực phẩm và thức ăn chăn nuôi, hóa chất và các thành phần năng lượng tái tạo. Ngoài các khu công nghiệp, các nhà đầu tư Bỉ cũng đóng một vai trò quan trọng trong ngành thực phẩm và đồ uống (F&B) của Việt Nam.

Cụ thể hơn, các khoản đầu tư của Bỉ tập trung vào chuỗi cung ứng của ngành, cung cấp nguyên liệu cho các nhà hàng, nhà máy F&B và bán lẻ. Với tốc độ tăng trưởng trung bình 7% và là một trong những lĩnh vực phát triển nhanh nhất tại Việt Nam, ngành F&B là một ứng cử viên đầy hứa hẹn cho các nhà đầu tư Bỉ tiếp tục đầu tư và mở rộng kinh doanh trong lĩnh vực này. Ngành công nghiệp chế biến chế tạo của Việt Nam cũng chứng tỏ là một lĩnh vực đầu tư tiềm năng của các tập đoàn Bỉ. Trong những năm qua, hầu hết các khoản đầu tư mà các nhà đầu tư Bỉ thực hiện tại Việt Nam là vào cảng biển, cơ sở hạ tầng, bất động sản, sản xuất và phát điện.

Cụ thể hơn, các lĩnh vực sản xuất như linh kiện ô tô, chuỗi cung ứng điện tử và hoàn thiện hàng may mặc là những cơ hội đầu tư hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Dược phẩm cũng là một lĩnh vực thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam. Các thị trường nhập khẩu dược phẩm lớn nhất của Việt Nam là EU, Ấn Độ, Mỹ và Hàn Quốc, trong khi thị trường xuất khẩu của Việt Nam là khu vực ASEAN, Nhật Bản, Síp và Mỹ. Hầu hết các nhà đầu tư EU tìm nguồn nguyên liệu dược phẩm thô từ EU, vận chuyển đến Việt Nam, sản xuất và chế biến sản phẩm tại Việt Nam trước khi họ nhập khẩu trở lại EU.

Nhờ có EVFTA, khoảng 71% thuế nhập khẩu đã được xóa bỏ. Hơn nữa, các hàng rào phi thuế quan cũng mang lại cơ hội trong việc cải thiện quyền sở hữu trí tuệ và nhập khẩu dược phẩm trực tiếp. Điều này có nghĩa là các nhà đầu tư Bỉ có thể thành lập một thực thể để nhập khẩu các sản phẩm dược phẩm và bán cho các nhà phân phối hoặc bán buôn địa phương.

Ngoài ra, nhà đầu tư Bỉ cũng có đủ điều kiện để xây dựng nhà kho và thực hiện các nghiên cứu, thử nghiệm lâm sàng. Tuy nhiên, điều quan trọng cần lưu ý là các đơn vị có vốn đầu tư nước ngoài vẫn bị cấm phân phối trực tiếp thuốc tại Việt Nam. Họ chỉ được phép bán cho các nhà bán buôn và bán lẻ các chất bổ sung không phải là dược phẩm ở dạng viên nén, viên nang và bột. Khi xuất khẩu sang Việt Nam, các công ty EU phải sử dụng Hệ thống nhà xuất khẩu đã đăng ký (REX) để chứng minh nguồn gốc xuất xứ của sản phẩm. Hệ thống REX là hệ thống xác nhận xuất xứ của sản phẩm do nhà xuất khẩu sản xuất và được đăng ký bởi cơ quan có thẩm quyền.

Một lĩnh vực khác mà Bỉ chú trọng khi đầu tư vào Việt Nam là sản xuất xanh và năng lượng tái tạo. Việt Nam chưa tính đến năng lượng tái tạo cho đến năm 2017. Tuy nhiên, chỉ sau hai năm, vào năm 2019, Việt Nam đã vượt qua Malaysia và Thái Lan, có công suất lắp đặt các tấm pin mặt trời lớn nhất Đông Nam Á. Điều này chứng tỏ rằng công nghệ và đầu tư nước ngoài đang được khuyến khích tại Việt Nam và Việt Nam có đầy đủ các lợi thế để phát triển mạnh mẽ và nhanh chóng trong lĩnh vực này.

Vào năm 2020, Chính phủ Việt Nam thông báo sẽ đặt mục tiêu tăng gấp đôi công suất phát điện trong thập kỷ tới. Dự kiến ​​sẽ nâng tỷ trọng sản xuất năng lượng tái tạo ở Việt Nam lên 20% để giảm sự phụ thuộc vào than để sản xuất điện. Do đó, Việt Nam là điểm đến đầu tư hấp dẫn đối với các dự án sản xuất năng lượng xanh và dự báo sẽ có nhiều nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt là các nước EU, sẽ tiếp tục thành lập và mở rộng hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực này tại Việt Nam.

Việt Nam đã có tốc độ tăng trưởng kinh tế theo cấp số nhân trong thập kỷ qua, đã ký kết một số hiệp định thương mại tự do để thúc đẩy thương mại trong khu vực. Sự gia tăng thương mại song phương giữa Bỉ và Việt Nam, cũng như nguồn vốn FDI ngày càng tăng từ Bỉ, cho thấy triển vọng tươi sáng cho quan hệ hai nước. Sự hiện diện lâu dài và đầu tư thành công của các công ty Bỉ tại Việt Nam là dấu hiệu tốt và tham khảo cho các cơ hội kinh doanh tại Việt Nam.

Bài viết liên quan